Quay lại

Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được pháp luật quy định như thế nào?

18/09/2021

Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được pháp luật quy định như thế nào?


   Cổ đông sáng lập là cổ đông chỉ tồn tại trong mô hình công ty cổ phần, không tồn tại các loại hình công ty khác. Vậy cổ đông sáng lập là gì và được pháp luật quy định như thế? Sau đây, MIENNAMCT sẽ giúp các bạn giải quyết vấn đề này.

1. Điều kiện trở thành cổ đông sáng lập

   Khoản 4 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã đưa ra định nghĩa về cổ đông sáng lập “là cổ đông sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông và ký tên trong danh cách cổ đông sáng lập công ty cổ phần”.

   Dựa vào các quy định trên đây, có thể thấy một cổ đông được gọi là cổ đông sáng lập khi thỏa mãn các điều kiện:

- Sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông. Cổ phần phổ thông là cổ phần là cổ phần quan trọng nhất và buộc phải có trong công ty cổ phần. Bản chất cổ đông sáng lập là cổ đông phổ thông. Khi sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông, cổ đông sáng lập có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cổ đông phổ thông như quyền chuyển nhượng cổ phần, quyền được hưởng cổ tức… đặc biệt là quyền tham dự họp, phát biểu, biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông. Quy định nhằm bảo đảm cho cổ đông sáng lập là cổ đông công ty và là cổ đông có quyền đưa ra các quyết định quản trị, điều hành công ty.

- Được kê khai và ký tên trong danh sách cổ đông sáng lập được nộp tại Phòng đăng ký kinh doanh thời điểm đăng ký thành lập công ty. Những người đầu tiên có ý tưởng kinh doanh và đứng ra tuyên truyền vận động người khác cùng góp vốn thành lập công ty có thể là cổ đông sáng lập hoặc cổ đông phổ thông. Để có cơ sở pháp lý chứng minh là cổ đông sáng lập thì họ phải ký tên vào danh sách cổ đông sáng lập công ty. Hành vi đó thể hiện ý chí, nguyện vọng của họ, đồng thời họ chấp nhận gánh vác trách nhiệm của người sáng lập công ty.

2. Số lượng cổ đông sáng lập

   Khoản 1 Điều 120 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định:

Điều 120. Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập

1. Công ty cổ phần mới thành lập phải có ít nhất 03 cổ đông sáng lập. Công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước hoặc từ công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc được chia, tách, hợp nhất, sáp nhập từ công ty cổ phần khác không nhất thiết phải có cổ đông sáng lập; trường hợp này, Điều lệ công ty trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải có chữ ký của người đại diện theo pháp luật hoặc các cổ đông phổ thông của công ty đó.”

Cổ đông sáng lập sở hữu không chỉ cổ phần phổ thông mà còn có cổ phần ưu đãi biểu quyết (Khoản 1 Điều 116 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Khi mới thành lập, công ty phải đối mặt với nhiều khó khăn, số lượng ít nhất là 03 cổ đông sáng lập sẽ tạo ra cơ chế cân bằng khi đưa ra các quyết định có mâu thuẫn giữa các cổ đông. Nếu không có đủ số lượng thành viên sáng lập khi thành lập, công ty phải đăng ký loại hình doanh nghiệp khác. Cổ đông sáng lập đóng vai trò là người định hướng cho công ty giai đoạn khó khăn ban đầu, vì thế công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước hoặc từ công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc được chia, tách, hợp nhất, sáp nhập từ công ty cổ phần khác thì không nhất thiết phải có cổ đông sáng lập.

3. Tỷ lệ nắm giữ cổ phần công ty đồng sáng lập

   Khoản 2 Điều 120 Luật Doanh nghiệp năm 2020 đưa ra quy định:

Điều 120. Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập

2. Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán khi đăng ký thành lập doanh nghiệp.”

Tỷ lệ 20% này nhằm đảm bảo cho công ty cổ phần có vốn hoạt động trong thời gian đầu khi mới thành lập.

4. Chuyển nhượng cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập

Cổ phần phổ thông của cố đông sáng lập bị hạn chế chuyển nhượng trong trường hợp sau:

Điều 120. Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập

3. Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp này, cổ đông sáng lập dự định chuyển nhượng cổ phần phổ thông thì không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng cổ phần đó.”

Đây là hạn chế mà pháp luật đặt ra đối với cổ đông sáng lập, sau thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đều được bãi bỏ. Đây là một quy định mang tính ràng buộc trách nhiệm của cổ đông sáng lập với doanh nghiệp do họ thành lập. Tuy nhiên hạn chế này không áp dụng với trường hợp được liệt kê tại Khoản 4 Điều 120 Luật Doanh nghiệp năm 2020:

Điều 120. Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập

4. Các hạn chế quy định tại khoản 3 Điều này không áp dụng đối với cổ phần phổ thông sau đây:

a) Cổ phần mà cổ đông sáng lập có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp;

b) Cổ phần đã được chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập.”

Hai trường hợp này cụ thể như sau:

- Trường hợp thứ nhất: Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập bị hạn chế chuyển nhượng khi đó là số cổ phần mà cổ đông sở hữu khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, số cổ phần đó được ghi trong danh sách cổ đông công ty. Khi doanh nghiệp đã đăng ký thành lập xong, việc cổ đông sáng lập đó có thể cổ phần phổ thông cũng không được tính vào trường hợp hạn chế chuyển nhượng trên.

- Trường hợp thứ hai: Ví dụ như sau: Công ty cổ phần X thành lập tháng 1 năm 2021.  A là cổ đông sáng lập, sở hữu cổ phần phổ thông. B không phải cổ đông sáng lập. Tháng 4 năm 2021, B nhận chuyển nhượng cổ phần phổ thông của A và được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Tháng 10 năm 2021, B chuyển nhượng cổ phần phổ thông này cho C (không phải cổ đông sáng lập). Lúc này B có thể tự do chuyển nhượng C mà không cần sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông.

Biên tập: Thanh Đăng

Bài Viết Khác